Phú Yên công bố 14 điểm có tiềm năng làm điện mặt trời

UBND tỉnh Phú Yên vừa công bố 14 điểm có tiềm năng phát triển dự án điện năng lượng mặt trời trên địa bàn nhằm thu hút đầu tư.

Theo đó, các địa điểm trên được triển khai tại 8 huyện, thị xã, thành phố, trên các vùng đồi núi bằng phẳng, đất mặt nước chuyên dùng, đất lúa đã được quy hoạch thành khu công nghiệp đa ngành….để tạo điều kiện thuận lợi các nhà đầu tư đến tiếp cận, nghiên cứu và đầu tư dự án.

Ông Đào Mỹ, Chánh Văn phòng kiêm người phát ngôn UBND tỉnh Phú Yên cho biết, đất để triển khai các dự án có tổng diện tích gần 5.160 hecta và công suất dự kiến đạt 3.541 MW.

Riêng 3 huyện miền núi của tỉnh là: Sông Hinh, Sơn Hòa và Đồng Xuân có tiềm năng xây dựng 4 dự án điện mặt trời trên đất mặt nước chuyên dùng thuộc khu vực các hồ thủy điện Sông Hinh, hồ thủy điện Sông Ba Hạ và hồ thủy lợi Buôn Đức và hồ thủy lợi Phú Xuân với diện tích 3.900 hecta và công suất dự kiến là 2.640 MW….

Trước đó, vào tháng 4 năm nay, tại buổi làm việc với đại diện Công ty USAREG (Đài Loan- Trung QuốcQuố) tìm hiểu về tiềm năng năng lượng mặt trời của tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên ông Nguyễn Chí Hiến cho biết đến nay đã có 16 nhà đầu tư đề xuất được tiếp cận, nghiên cứu khảo sát để thực hiện các dự án điện mặt trời, điện gió và điện khí tại các huyện: Tuy An, Tây Hòa, Sông Hinh, Đông Hòa, Sơn Hòa, Phú Hòa và thành phố Tuy Hòa.

Trên địa bàn tỉnh Phú Yên hiện có 4 nhà máy thủy điện đang hoạt động là: Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông H’năng và La Hiêng 2 với tổng công suất 372 MW./.

Nguồn  bnews.vn

Gia tăng cơ hội cho các dự án điện mặt trời

Gia tăng cơ hội cho các dự án điện mặt trời

Quyết định về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam của Thủ tướng cùng với sự phát triển các công nghệ mới trong lĩnh vực điện mặt trời với suất đầu tư rẻ hơn đang tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào lĩnh vực này.

Giải pháp năng lượng thời biến đổi khí hậu

Tại một hội thảo về công nghệ năng lượng mặt trời do Trung tâm đổi mới sáng tạo ứng phó với biến đổi khí hậu Việt Nam (VCIC) tổ chức tại Sơn La gần đây, một thông tin đáng chú ý là mặc dù tỉnh đã quy hoạch 95 dự án thuỷ điện vừa và nhỏ với công suất 321 MW và đang nghiên cứu để bổ sung thêm 9 dự án với công suất 48 MW, nâng tổng công suất điện của tỉnh lên 369 MW, nhưng do công tác điều tra, khảo sát nguồn thủy năng không đầy đủ nên một số nhà máy thủy điện nhỏ hoạt động với hệ số công suất rất thấp.

Nhiều nhà máy chỉ vận hành được trong các tháng mùa mưa, còn trong các tháng mùa khô công suất phát rất thấp, thậm chí không tích được nước để phát điện.

gia-tang-co-hoi-cho-cac-du-an-dien-mat-troi

Theo số liệu thống kê mới nhất, tổng công suất thủy điện của Việt Nam vào khoảng 35.000MW, tiềm năng kỹ thuật (tiềm năng có thể khai thác khả thi) vào khoảng 26.000MW, tương ứng với gần 970 dự án được quy hoạch, hàng năm có thể sản xuất hơn 100 tỷ kWh, trong đó nói riêng thuỷ điện nhỏ có tới 800 dự án, với tổng điện năng khoảng 15 ­ 20 tỷ kWh/năm. Năm 2017, dự kiến sẽ có 473 dự án sẽ đưa vào khai thác vận hành, với tổng công suất là 21.229,3 MW, chiếm gần 82% tổng công suất tiềm năng kỹ thuật của thủy điện.

Với nguồn tài nguyên nước đang bị đe dọa và cạn kiệt, phát triển năng lượng tái tạo nhất là năng lượng mặt trời đang là xu hướng chung của thế giới và nhất là Việt Nam.

Đây là nguồn năng lượng sạch, có đặc tính tái tạo, có trữ lượng khổng lồ và khắc phục được các nhược điểm của những nguồn năng lượng tái tạo khác, như điện gió có tổng mức đầu tư rất cao trong khi hiệu năng phát điện thấp, hay điện hạt nhân được chứng minh có tác động vô cùng tiêu cực tới môi trường và xã hội.

Không phải bây giờ, mà từ thế kỷ trước, nhà phát minh Thomas Edison đã nhận ra tiềm năng của năng lượng mặt trời. Ông từng nói với những người bạn của mình là Henry Ford và Harvey Firestone rằng, “Tôi sẽ bỏ tiền ra đầu tư vào năng lượng mặt trời. Hi vọng chúng ta sẽ không ngồi đợi đến khi dầu và thanh đá cạn kiệt mới bắt đầu giải quyết vấn đề này”.

Không còn là cuộc chơi của những ông lớn

Tại Việt Nam, sau nhiều năm chờ đợi, thị trường quang điện đã đón nhận thông Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam.

Quyết định này đã tạo ra kỳ vọng cho giới đầu tư trong và ngoài nước quan tâm đến thị trường điện Việt Nam. Đặc biệt, Quyết định 11/2017/QĐ-TTg yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sẽ có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện từ các dự án nối lưới với giá 9,35 cent/kWh.

Nắm bắt xu hướng này, các doanh nghiệp ngoại đã nhanh chân đầu tư vào Việt Nam các dự án điện mặt trời như 2 dự án nhà máy điện mặt trời tại Quảng Ngãi và Ninh Thuận của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Thiên Tân; Công ty TNHH DooSung Vina (Hàn Quốc) đầu tư 66 triệu USD cho nhà máy công suất 30 MW tại Bình Thuận.

Trong khi đó, các tập đoàn có tiềm lực của Việt Nam cũng bắt đầu tham gia sân chơi này, điển hình là dự án 1 tỷ USD của Tập đoàn Thành Thành Công với tham vọng xây dựng và vận hành 20 nhà máy điện mặt trời tại Việt Nam.

Mặc dù hiện đang là thời điểm rất tốt để cùng nhau rót vốn vào lĩnh vực năng lượng mặt trời, tuy nhiên đối với các nhà đầu tư trong nước, lĩnh vực này khá mới và đòi hỏi sự am hiểu về công nghệ cũng như cấu trúc tài chính.

Theo các chuyên gia của VCIC, các tính toán mới nhất trong 2 năm gần đây về suất đầu tư 2 nhà máy Nhà máy điện mặt trời Thiên Tân và Nhà máy điện mặt trời Tuy Phong được phê duyệt và khởi công xây dựng, suất đầu tư trung bình vào khoảng 40 tỷ đồng/MW (tương đương 2 triệu USD/MW), trong đó chi phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng và đấu nối với mạng lưới điện quốc gia chiếm tỷ trọng đáng kể.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, với công nghệ năng lượng mặt trời thế hệ mới đến từ Đức và Hà Lan thì suất đầu tư cho 1 MW điện mặt trời có thể giảm tới 40%, còn khoảng 1,2 triệu USD/MW.

gia-tang-co-hoi-cho-cac-du-an-dien-mat-troi

Việc giảm đáng kể suất đầu tư xuất phát từ việc công nghệ năng lượng mặt trời thế hệ mới giúp nâng cao hiệu suất phát điện từ 4% – 7% nhờ hiệu suất pin cao (trung bình từ 16,7% – 17,5% và đạt hiệu hiệu suất cực đại ở mức 20,6%), giảm khả năng phản xạ ảnh sáng (giảm 6%), thêm vào đó chất lượng công nghệ cũng được đảm bảo với chế độ bảo hành sản phẩm cũng như bảo hành hiệu suất phát điện lên tới 25 năm.

Bên cạnh đó, việc tích hợp giữa hệ thống điện mặt trời và thủy điện là giải pháp tối ưu đã được nhiều quốc gia áp dụng, giúp các nhà máy tận dụng được cơ sở hạ tầng phát điện và hệ thống vận hành (hệ thống biến áp, đấu nối…) vốn có của nhà máy thủy điện. Thêm vào đó thời gian và chi phí lắp đặt một dự án năng lượng mặt trời chỉ từ 6-12 tháng, giúp các nhà máy nhanh chóng vận hành đưa vào hoạt động 2 hệ thống phát điện bù đắp công suất cho nhau trong cả mùa mưa và mùa khô.

“Với sứ mệnh hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển các giải pháp công nghệ và mô hình kinh doanh trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, VCIC sẵn sàng hỗ trợ các nhà đầu tư trong nước lựa chọn giải pháp công nghệ cũng như tìm kiếm các nguồn vốn tín dụng hay M&A các dự án thủy điện”, đại diện VCIC cho biết và khẳng định, các công nghệ mới này sẽ tạo thêm nhiều cơ hội và sự chắc chắn cho các nhà đầu tư Việt Nam khi quyết định tham gia vào lĩnh vực điện mặt trời.

dienmattroi

Trường đại học “xanh” đầu tiên ở miền Trung

 Đại học Bách khoa Đà Nẵng là trường đại học đầu tiên của khu vực miền Trung tiên phong sử dụng nguồn năng lượng sạch, thân thiện với môi trường khi vừa đưa vào sử dụng hệ thống điện mặt trời với tổng công suất 49,6 kWp.
dienmattroi

Hệ thống điện mặt trời này bao gồm 160 tấm pin năng lượng mặt trời IREX 310 Wp cùng các thiết bị đi kèm, được tính toán để chịu được những rủi ro từ thời tiết, được lắp đặt trên tổng diện tích 331 m2. Dự kiến, hệ thống sẽ sản sinh được 75.025 kWh/năm (tương đương với mức đạt 208,4 kWh/ ngày), đáp ứng được khoảng 7,1% nhu cầu tiêu thụ điện của nhà trường.

Theo tính toán, giải pháp này sẽ giúp phía nhà trường tiết kiệm được 4,8% chi phí điện mỗi năm trong vòng 12 năm đầu, và khoảng 7,1% trong các năm tiếp theo.

Bên cạnh giá trị kinh tế chứng minh được qua con số, hệ thống còn góp phần giảm thiểu khoảng 49,607 tấn CO2 mỗi năm thải ra môi trường. Ngoài ra, đây còn là mô hình năng lượng mặt trời trực quan về nghiên cứu, đào tạo dành cho sinh viên.

Với mô hình này, Đại học Bách khoa Đà Nẵng sẽ trở thành một trong những trường đại học đi đầu về phát triển mô hình giáo dục trải nghiệm, đem đến nguồn nhân lực chất lượng hơn, từ đó tạo đà cho sự phát triển của ngành năng lượng sạch nói riêng và của đất nước nói chung.

Ông Lê Kim Hùng, Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Đà Nẵng khẳng định: “Trong năm tiếp theo, nếu nhiều sinh viên có hứng thú với mảng năng lượng sạch, chúng tôi sẽ cân nhắc đến việc mở ngành học, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho thị trường”.

Nguồn baochinhphu.vn

cong-vien-nang-luong-mat-troi-cung-cap-dien-cho-2100-ho-dan-di-vao-hoat-dong

Công viên năng lượng mặt trời cung cấp điện cho 2.100 hộ dân đi vào hoạt động

Công viên Juanilama, công viên năng lượng mặt trời lớn nhất Costa Rica sau khi đi vào hoạt động có thể cung cấp đủ điện cho 2.100 hộ gia đình.

cong-vien-nang-luong-mat-troi-cung-cap-dien-cho-2100-ho-dan-di-vao-hoat-dong

Công viên Juanilama nằm ở huyện Belen, tỉnh Guanacaste. Đây là công viên năng lượng mặt trời lớn nhất từ trước đến nay ở Costa Rica. Nó có diện tích rộng 5 ha và với số vốn đầu tư là 8,6 triệu USD.

Công viên Juanilama được lắp đặt hơn 15.000 tấm pin năng lượng mặt trời công nghệ cao. Cơ sở sẽ cung cấp khoảng 9 GW (9 tỷ W) điện mỗi năm, đảm bảo việc cung cấp điện cho 2.100 hộ dân.

Ngoài ra còn giúp giảm thải tới 1.500 tấn CO2 vào bầu khí quyển mỗi năm, góp phần làm trong sạch môi trường tại quốc gia Trung Mỹ này

cong-vien-nang-luong-mat-troi-cung-cap-dien-cho-2100-ho-dan-di-vao-hoat-dong

Costa Rica đã và đang rất phát triển các nguồn năng lượng tái tạo trong những năm gần đây. Theo Viện Điện lực Costa Rica (ICE), trong 3 tháng đầu năm nay, nguồn năng lượng sạch của nước này đã đáp ứng tới 99,06% lượng điện tiêu thụ trong cả nước, trong đó, thủy điện chiếm 69,3%, phong điện (16,2%) và địa nhiệt (11,2%).

Số liệu của ICE cũng cho thấy có tới 98% năng lượng điện tiêu thụ ở Costa Rica trong năm 2016 là đến từ các nguồn năng lượng tái tạo. Tổng sản lượng điện trong 2016 đạt 10.778 GWh.

Công viên Juanilama là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Costa Rica, nhằm thúc đẩy cuộc chiến chống biến đổi khí hậu nhờ áp dụng các công nghệ sạch để giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

Nguồn dantri.com.vn

Giá năng lượng mặt trời đã giảm 95%

Giám đốc điều hành của tập đoàn Năng lượng Sunnova William J. Berger cho biết giá năng lượng mặt trời đã giảm 95% trong vòng chưa đầy 9 năm qua.

nguy-co-phu-thuoc-nguon-nang-luong-nhap-khau

Trong bài phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh Chuyển đổi năng lượng toàn cầu lần đầu tiên, do Viện nghiên cứu năng lượng Baker và Baker Botts LLP tại Đại học Rice, bang Texas của Mỹ đồng tổ chức, ông Berger cho rằng năng lượng mặt trời đã trở thành nguồn năng lượng rẻ nhất hiện nay và Trung Quốc hiện nay có lợi thế về phát triển và sản xuất pin, vượt Mỹ.

Tập đoàn Năng lượng Sunnova do một nhóm doanh nhân thành lập năm 2012 và hiện đã trở thành một trong những nhà cung cấp năng lượng mặt trời hàng đầu ở Mỹ.

Theo Bộ Năng lượng Mỹ, các nguồn năng lượng tái tạo dự kiến chiếm 8% công suất phát điện của Mỹ trong năm 2017, trong đó năng lượng mặt trời chiếm một phần quan trọng, trong bối cảnh Mỹ đã tăng cường phát triển nguồn năng lượng này từ năm 2016.

Hội nghị Thượng đỉnh Chuyển đổi năng lượng toàn cầu được tổ chức tại Houston, Mỹ, có sự tham gia của hơn 12 diễn giả nổi tiếng từ các ngành công nghiệp dầu khí, bao gồm nhiều giám đốc điều hành, các lãnh đạo doanh nghiệp cùng các chuyên gia về tài chính, đầu tư và luật. Hội nghị thảo luận các chủ đề về dầu mỏ, khí đốt, điện, năng lượng tái tạo và công nghệ./.

Nguồn bnews.vn

 

Thủ tướng:Phải phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long

Tiếp tục các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị của Thủ tướng Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu diễn ra tại TP Cần Thơ, ngày 27/9, Hội nghị đã họp phiên toàn thể dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc.

Tham dự Hội nghị có Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ – Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng; Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân cùng trên 700 đại biểu là lãnh đạo, đại diện các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, đoàn thể, các địa phương, các cơ quan nghiên cứu, các doanh nghiệp, các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, đối tác phát triển và các chuyên gia, nhà khoa học thuộc các lĩnh vực liên quan.

Phát biểu mở đầu Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, trong những năm qua Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển vùng ĐBSCL, trước những thách thức mà khu vực này đang phải đối mặt, Chính phủ tiếp tục xác định tầm nhìn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với vùng ĐBSCL là kiến tạo phát triển bền vững, thịnh vượng, trên cơ sở làm cho đất và nước điều hòa để nâng cao đời sống của nhân dân.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cam kết với quyết tâm chính trị cao, kiến tạo cơ chế thuận lợi, huy động sự tham gia của mọi người dân, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế, huy động nguồn lực cần thiết có thể được, cụ thể hóa thành các hành động, thực hiện các sáng kiến, các nhiệm vụ, các giải pháp từ hội nghị này cho quá trình phát triển bền vững ĐBSCL với tầm nhìn đến hết thế kỷ XXI, biến thách thức thành thời cơ, chủ động sống chung với lũ…

Thủ tướng đề nghị các đại biểu tiếp tục đóng góp ý kiến đối với những vấn đề trọng tâm như: Xác định rõ các thách thức mang tính sống còn mà ĐBSCL đang đối mặt và phải vượt qua trong thời gian tới; quan điểm chỉ đạo đối với việc định hình chuyển đổi mô hình phát triển; các giải pháp cấp bách, chiến lược lâu dài, các chương trình, đề án, nhiệm vụ ưu tiên, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể; việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách pháp luật, tạo đột phá trong huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực;…

Hội nghị đã nghe phát biểu của Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam; Giám đốc điều hành Ủy hội sông Mê Công quốc tế; Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân; đại diện các tổ chức quốc tế, các đối tác phát triển; ý kiến của các địa phương, doanh nghiệp về quan điểm, định hướng phát triển các tỉnh vùng ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu; báo cáo kết quả các phiên thảo luận chuyên đề gồm: kết quả thảo luận về các chủ đề quy hoạch tích hợp, phát triển hạ tầng và nguồn lực; kết quả thảo luận về nông nghiệp bền vững, hạ tầng thủy lợi, phòng chống thiên tai và sạt lở; kết quả thảo luận về những cơ hội, thách thức và giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển cho ĐBSCL.
Ý kiến phát biểu của các đại biểu trong nước và quốc tế cho rằng, ĐBSCL là vùng đất có nhiều tiềm năng, lợi thế song cũng phải đối mặt với không ít khó khăn thách thức, trong đó lớn nhất là nhóm thách thức từ nội tại, nhóm thách thức mang tính khu vực và nhóm thách thức mang tính toàn cầu do biến đổi khí hậu, nước biển dâng, hạn hán gia tăng, các hiện tượng khí hậu, thời tiết cực đoan…

Vì vậy, để ứng phó với những khó khăn, thách thức, phát triển bền vững ĐBSCL, việc chuyển đổi mô hình phát triển phải được xem xét trong tổng thể chung của đồng bằng. Phải lấy tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi, trung tâm, làm cơ sở xuyên suốt cho việc hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển vùng.

Việc chuyển đổi mô hình phải dựa trên hệ sinh thái, phù hợp với quy luật tự nhiên; phải kết hợp giữa công nghệ tiên tiến, hiện đại với tri thức, kinh nghiệm truyền thống bản địa. Quá trình chuyển đổi cần có tầm nhìn dài hạn, ưu tiên cho thích ứng với biến đổi khí hậu nhưng cũng phải tận dụng các cơ hội để phát triển kinh tế xanh, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên. Trong chuyển đổi mô hình phát triển phải đảm bảo tính ổn định, sinh kế của người dân; phải lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, Nhà nước đóng vai trò định hướng, dẫn dắt…

Phát biểu kết luận Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Hội nghị đã nghe nhiều báo cáo, nhiều ý kiến có giá trị, sâu sát thực tiễn và đặc biệt là những báo cáo về kinh nghiệm của thế giới về phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.
“Thay mặt Chính phủ, một lần nữa tôi đánh giá cao sự nhiệt tình, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế, các chuyên gia”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ đồng thời nhấn mạnh Chính phủ lắng nghe và tiếp thu đẩy đủ những vấn đề mà các đại biểu nêu trong cuộc họp, đồng thời Chính phủ kêu gọi các sáng kiến, đóng góp để cùng chung tay thực hiện mục tiêu phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu.

Sau khi phân tích, chỉ ra những thách thức đối với vùng ĐBSCL, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu lên 3 quan điểm phát triển ĐBSCL là: Thứ nhất, kiến tạo phát triển bền vững, thịnh vượng trên cơ sở chủ động thích ứng, chuyển hóa được những thách thức, biến thách thức thành cơ hội, bảo đảm được cuộc sống ổn định và khá giả của người dân cũng như bảo tồn được những giá trị truyền thống, văn hoá của ĐBSCL.

Thứ hai, thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang tư duy kinh tế nông nghiệp, từ số lượng sang chất lượng gắn với chuỗi giá trị; từ sản xuất nông nghiệp hóa học sang nông nghiệp hữu cơ và công nghệ cao. Chú trọng công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp. Thứ ba, tôn trọng quy luật tự nhiên, chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên, phát triển bền vững theo phương châm chủ động sống chung với lũ, sống chung với mặn, khô cạn, thiếu nước, phù hợp với điều kiện thực tế.

Về chủ trương và định hướng chiến lược phát triển ĐBSCL, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, mô hình phát triển vùng ĐBSCL phải lấy con người làm trung tâm, chú trọng về chất lượng hơn là số lượng, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, thực thi tiếp cận chủ động, linh hoạt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu, việc khai thác, sử dụng nguồn nước trên thượng nguồn sông Mê Kông và các điều kiện tự nhiên khác. Chuyển đổi mô hình phát triển không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn bảo tồn giá trị văn hóa, lịch sử, sự đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.
Đồng thời, xác định biến đổi khí hậu và nước biển dâng là xu thế tất yếu, phải sống chung và thích nghi. Phải biến thách thức thành cơ hội. Coi nước lợ và nước mặn là một nguồn lực của tài nguyên bên cạnh nguồn tài nguyên nước ngọt; tăng cường quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bền vững nguồn tài nguyên nước, đất đai và các tài nguyên khác trong vùng; chú trọng phát triển vùng duyên hải, vùng đặc quyền kinh tế và vị trí địa chính trị của đồng bằng. Áp dụng kinh nghiệm và công nghệ mới để khắc phục “nhân tai” và đối phó với thiên tai.
Việc chuyển đổi mô hình phát triển phải bảo đảm sự hài hòa về điều kiện tự nhiên về đất, nước, đa dạng sinh học và văn hoá, con người; kế thừa các thành tựu, giá trị nhân văn và tri thức bản địa; phù hợp với các quy luật tự nhiên, chú trọng ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ; nhất là các lợi thế của Việt Nam trong Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Tiếp cận tổng thể, tích hợp, chú trọng hợp tác liên kết phát triển. Tạo lập liên kết phát triển giữa các địa phương trong vùng và giữa vùng ĐBSCL với TP Hồ Chí Minh và cả Miền Đông Nam bộ; giữa Tây và Đông nam bộ; giữa Việt nam với các nước, trước hết là các nước tiểu vùng Mê kông,…

Mọi hoạt động đầu tư phải được điều phối thống nhất, đảm bảo tính chất liên vùng, liên ngành, có trọng tâm, có trọng điểm, có lộ trình hợp lý, trong đó trước mắt tập trung ưu tiên các công trình cấp bách có tính chất không hối tiếc, các công trình có tính chất động lực thúc đẩy phát triển kinh tế toàn vùng, các công trình thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân.

Chủ động hợp tác với các nước trên lưu vực sông Mê Kông trên cơ sở cùng có lợi để chuyển hóa những thách thức thành cơ hội. Tăng cường hợp tác với các quốc gia ven sông Mê Kông thông qua các sáng kiến hợp tác vùng và hợp tác song phương nhằm cùng nhau sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên nước và các tài nguyên có liên quan trong lưu vực sông Mê Kông.

 

Về các giải pháp tổng thể, Thủ tướng nhấn mạnh cần xây dựng Quy hoạch tích hợp phát triển phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu. Định hình sự phát triển bền vững ĐBSCL phải đặt trong bối cảnh có rất nhiều bất định đến từ biến đổi khí hậu và việc sử dụng nguồn nước trên thượng nguồn, đặc biệt về thủy văn và trầm tích, ảnh hưởng sâu sắc đến sự ổn định của chính đồng bằng. Trước hết cần rà soát lại các quy hoạch tổng thể, ngành, địa phương đã có tại ĐBSCL.

Quy hoạch mới cần chuyển từ “sống chung với lũ” sang “sống chung với nước mặn và ngập”, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả cao nước ngọt, khai thác nước lợ và nước mặn ở vùng biển chiếm ưu thế; đảm bảo nước ngọt cho sinh hoạt của người dân. Quy hoạch phát triển ĐBSCL cần bao gồm cả phần nước biển ven bờ chứ không chỉ trong đất liền như lâu nay vẫn làm. Mọi dự án công trình phải được tính toán thật kỹ trên cán cân được – mất ở cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường, được phản biện khách quan, khoa học bảo đảm không hối tiếc đầu tư.

Phấn đấu đến năm 2050: ĐBSCL trở thành vùng có trình độ phát triển khá so với cả nước, có trình độ tổ chức xã hội tiên tiến, GDP bình quân đầu người đạt gần 10.000 USD/năm; tỷ trọng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm trên 80%; độ che phủ rừng đạt trên 5% (so với 4,3% hiện nay), các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng được bảo tồn. Trong điều kiện biến đổi khí hậu và thực hiện các chuyển đổi lớn, chiến lược tại ĐBSCL thì việc đảm bảo sinh kế cho người dân là nhiệm vụ trọng tâm.
Tổ chức không gian lãnh thổ theo hướng khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của vùng đồng ĐBSCL dựa trên đặc trưng sinh thái đất, nước gắn liền với văn hóa, con người trong bối cảnh thích ứng với biến đổi khí hậu theo các kịch bản và các tác động từ bên ngoài.
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, bảo đảm gắn kết chuỗi sản phẩm hàng hóa, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ưu tiên công nghiệp hỗ trợ cho nền kinh tế nông nghiệp; phát triển công nghiệp xanh, ít phát thải, không gây tổn hại đến hệ sinh thái tự nhiên, tập trung công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản tạo thành chuỗi giá trị của vùng.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều phối phát triển vùng. Phải khắc phục cho được việc quản lý nhà nước thừa chồng chéo nhưng thiếu phối hợp; chậm ban hành một cơ chế phát triển vùng để tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả vùng.
Tiếp tục cập nhật và hoàn thiện Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tại Việt Nam cho đến năm 2100. Kịch bản phải được công bố công khai theo định kỳ để thường xuyên cập nhật, bổ sung các Chiến lược, Quy hoạch phát triển.
Nhấn mạnh vấn đề nổi cộm chính là nguồn nước ngày càng khan hiếm đi, Thủ tướng cho rằng chiến lược đầu tiên là chọn cây trồng nào ít sử dụng nước và không tiếp tục gia tăng hoặc giữ diện tích trồng lúa nhiều như hiện nay.
Cần thiết xen canh mô hình canh tác lúa – cá, lúa – tôm để giảm bớt sử dụng nước trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu lại và phát triển bền vững nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long theo hướng liên kết vùng, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Hạn chế tối đa làm nhiệt điện than, nếu làm thì không được ảnh hưởng tới môi trường, chủ yếu hướng tới phát triển năng lượng tái tạo, trước hết là năng lượng gió và năng lượng mặt trời.
Tận dụng lợi thế sông nước để phát triển các tuyến giao thông thủy, thay vì đầu tư quá nhiều cho các dự án cao tốc, đường bộ lớn. Phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống đường thủy phù hợp, bảo đảm tính liên thông, gắn kết với các loại hình giao thông khác, đảm bảo lưu thông hàng hóa cho một nền sản xuất lớn và phát triển nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp đặc trưng vùng sông nước để phát triển du lịch.
Thủ tướng cũng nhấn mạnh cần chủ động hợp tác với các nước trên lưu vực sông Mê Công trên cơ sở cùng có lợi để chuyển hoá những thách thức thành cơ hội; tranh thủ sự hỗ trợ của đối tác phát triển; mở rộng thị trường hàng hóa với các nước trên thế giới và mở ra không gian hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Tăng cường hợp tác với các quốc gia ven sông Mê Kông thông qua các sáng kiến hợp tác vùng và hợp tác song phương nhằm cùng nhau sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên nước và các tài nguyên có liên quan trong lưu vực sông Mê Kông.
Thủ tướng yêu cầu, ngay sau Hội nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ khẩn trương tiếp thu, tổng hợp ý kiến của các địa phương, các đại biểu, xây dựng ngay dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu để đưa ra thảo luận tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9.

Nguồn  kinhtedothi.vn

Tổng quan về năng lượng trên thế giới

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) tuần trước công bố ấn bản năm 2017 về năng lượng thế giới với tên gọi Key World Energy Statistics. Ấn bản thường niên này tập hợp tất cả dữ liệu về năng lượng toàn cầu

Năng lượng hóa thạch vẫn còn ở khắp mọi nơi

Theo số liệu mới nhất của IEA, lượng tiêu thụ năng lượng hóa thạch vào năm 2015 của thế giới vẫn chiếm tỷ trọng 81,4% (số còn lại là năng lượng mới hay còn gọi là năng lượng tái tạo). Năm 1973, tỷ trọng này là 86,7% (trong đó chỉ riêng dầu lửa chiếm 46,2%). Như vậy sau 42 năm, thế giới chỉ giảm được 5,3% mức tiêu thụ năng lượng hóa thạch nhờ sự tăng trưởng nhẹ của năng lượng sạch.

Cần lưu ý rằng sản lượng khí thiên nhiên toàn cầu tăng gấp ba lần và than đá hơn gấp đôi kể từ năm 1973. Lượng khí thải CO2 toàn cầu bắt nguồn từ đốt nhiên liệu đã tăng gấp đôi trong giai đoạn này.

Theo Hiệp định Paris, để hạn chế sự ấm lên toàn cầu khoảng 2°C vào năm 2100, lượng khí thải toàn cầu phải giảm từ 40% đến 70% vào năm 2050 (so với mức năm 2010).

Phân bố mức tiêu thụ năng lượng thế giới vào năm 2015

Điện chiếm 18,5% lượng tiêu thụ năng lượng của thế giới vào năm 2015 (tăng từ mức 9,4% của năm 1973). Sản lượng điện toàn cầu vẫn bị chi phối bởi than đá, tuy nhiên, than là nhiên liệu có lượng khí thải khí nhà kính lớn nhất.

Năng lượng tái tạo phát triển khá nhanh chóng trong những năm gần đây nhưng cho đến nay vẫn chiếm số ít trong tổng sản lượng thế giới. Trong năm 2015, thủy điện đã sản xuất được 3978 TWh, cao hơn so với sản lượng điện hạt nhân (2571 TWh vào năm 2015), điện gió (838 TWh vào năm 2015) và điện năng lượng mặt trời (247 TWh vào năm 2015 ).

Năng lượng: Bất bình đẳng lớn giữa các vùng trên thế giới

Ở cuối của ấn phẩm của mình, IEA đã đưa ra bảng thống kê các chỉ số năng lượng ở mỗi quốc gia vào năm 2015 (sản lượng, mức tiêu thụ năng lượng, lượng khí thải CO2…).

Bảng thống kê cho thấy sự bất bình đẳng lớn giữa các nước về mức tiêu thụ năng lượng. Chẳng hạn, mức tiêu thụ trung bình của một người dân châu Phi vào năm 2015 thấp hơn mức trung bình của các nước OECD hơn 6 lần.

IEA cũng nhắc lại những dự báo về mức tiêu thụ năng lượng thế giới. Theo đó, vào năm 2040, mức tiêu thụ năng lượng của thế giới sẽ tăng 30% so với mức của năm 2015. IEA cho rằng để đạt được mục tiêu giảm khí thải nhà kính theo Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, mức tiêu thụ năng lượng toàn cầu vào năm 2040 chỉ được phép tăng 10% so với mức của năm 2015.

Nguồn  petrotimes.vn

công viên

Công viên năng lượng Mặt Trời lớn nhất Costa Rica đi vào hoạt động

Theo phóng viên TTXVN tại khu vực Trung Mỹ, Solar Juanilama, công viên năng lượng Mặt Trời lớn nhất ở Costa Rica với công suất 9 GW/năm đặt tại tỉnh Tây Bắc Guanacaste, đã chính thức đi vào hoạt động.

công viên

Đây là dự án đầu tiên được thực hiện ở khu vực Mỹ Latinh thông qua cơ chế tín dụng giữa Nhật Bản và Costa Rica, nhằm thúc đẩy cuộc chiến chống biến đổi khí hậu nhờ áp dụng các công nghệ sạch để giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

Xây dựng trên diện tích rộng 5 ha và với số vốn đầu tư gần 9 triệu USD, Solar Juanilama, với 15.456 tấm quang điện với công nghệ cao HIT (công suất 325 watt/ tấm), sẽ đảm bảo việc cung cấp điện cho 2.100 hộ dân, ngoài ra còn giúp giảm thải tới 1.500 tấn CO2 vào bầu khí quyển mỗi năm, góp phần làm trong sạch môi trường tại quốc gia Trung Mỹ này.

Trong những năm gần đây, Costa Rica đã phát triển một cách hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo. Theo Viện Điện lực Costa Rica (ICE), trong 3 tháng đầu năm nay, nguồn năng lượng sạch của nước này đã đáp ứng tới 99,06% lượng điện tiêu thụ trong cả nước, trong đó, thủy điện chiếm 69,3%, phong điện (16,2%) và địa nhiệt (11,2%).

Số liệu của ICE cho thấy có tới 98% năng lượng điện tiêu thụ ở Costa Rica trong năm 2016, năm thứ hai liên tiếp, là đến từ các nguồn năng lượng tái tạo. Tổng sản lượng điện trong 2016 đạt 10.778 GWh. Từ tháng 6/2016, Costa Rica đã đình chỉ hoạt động của tất cả các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than trên toàn quốc.

TTXVN/Báo Tin Tức

nang-luong-ben-vung

Hợp tác để phát triển năng lượng bền vững

“Làm thế nào để sở hữu một nền kinh tế phát triển, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên mà vẫn thân thiện với môi trường?”. Câu hỏi này đã được các nhà hoạch định chính sách cùng nhiều chuyên gia hàng đầu về năng lượng thảo luận tại hội thảo “Năng lượng bền vững – Hướng tới một nền kinh tế có mức phát thải thấp” do Bộ Công Thương phối hợp với Đại sứ quán CHLB Đức và Tập đoàn Siemens vừa phối hợp tổ chức tại Hà Nội.

nang-luong-ben-vung

Thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch

Nền kinh tế của Việt Nam đang tăng trưởng nhanh, nhu cầu năng lượng ngày càng cao. Trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 đã đề ra mục tiêu, phấn đấu bảo đảm cung cấp đủ năng lượng theo nhu cầu cho nền kinh tế, cụ thể đến năm 2020 đạt khoảng 100 đến 110 triệu TOE (tấn quy dầu) năng lượng sơ cấp và khoảng 310 đến 320 triệu TOE vào năm 2050. Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia điều chỉnh giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 cũng đặt ra các mục tiêu cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước. Theo đó, dự kiến đến năm 2020, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 60.000 MW, định hướng đến năm 2030, khoảng 129.500 MW…

Do vậy, việc cung cấp năng lượng đáng tin cậy, giá cả hợp lý, bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên là điều đang được đặt ra. Vì thế, Việt Nam đang đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực năng lượng, tăng cường cơ chế phối hợp và đối thoại, không ngừng hoàn thiện cơ chế chính sách để nâng cao năng lực, hiệu quả, tính bền vững và thích ứng cho ngành năng lượng quốc gia. Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng

Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng nêu rõ, an ninh năng lượng luôn là mục tiêu hàng đầu trong chính sách, chiến lược phát triển ngành năng lượng của Việt Nam. Việt Nam đã và đang huy động những nguồn lực trong nước và quốc tế nhằm hỗ trợ cho phát triển điện lực để bảo đảm cung cấp đủ điện với chất lượng ngày càng cao, giá hợp lý cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, tối ưu hóa việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên năng lượng, cũng như thúc đẩy việc sử dụng năng lượng sạch và tái tạo.

Ngoài việc không ngừng phát huy nội lực, Việt Nam đang quyết tâm giải quyết các thách thức nêu trên với sự hợp tác, hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt từ các đối tác có trình độ công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực năng lượng.

Những giải pháp hữu ích

Chủ tịch và Tổng Giám đốc khu vực của Tập đoàn Siemens Armin Bruck nhấn mạnh, để bảo đảm cung cấp năng lượng tin cậy và tối ưu hóa việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên năng lượng, đồng thời tiếp tục giảm thiểu phát thải carbon, cần phải phát huy cao nhất mức độ sử dụng năng lượng hiệu quả cũng như phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, lưới điện thông minh, tỷ lệ cao các nguồn phát điện phân bố.

“Chúng tôi kết hợp dữ liệu thông minh với bí quyết công nghệ nhằm tích hợp các công nghệ số và tự động hóa, giúp các khách hàng tối ưu hóa hoạt động về năng lượng và xây dựng bối cảnh năng lượng của tương lai. Rất nhiều công nghệ tiên tiến của chúng tôi đã được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam” – ông Armin Bruck nói.

Thực tế, hoạt động này cũng là một trong những bước cụ thể hóa mà Việt Nam đang đẩy mạnh trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về năng lượng. Trung tuần tháng 6 vừa qua, tại Hà Nội, Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) đã ký Tuyên bố chung về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực năng lượng bền vững.

Theo đó, EU hỗ trợ mạnh mẽ Việt Nam: Bảo đảm việc tiếp cận năng lượng với giá cả hợp lý, tin cậy, bền vững và hiện đại cho tất cả mọi người; có biện pháp khẩn cấp để chống biến đổi khí hậu và các tác động; đa dạng hóa trong đầu tư và mô hình kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng, phát triển một thị trường năng lượng cạnh tranh và thúc đẩy các nguồn năng lượng tái tạo cũng như sử dụng năng lượng hiệu quả; chuyển giao công nghệ năng lượng tái tạo của EU cho Việt Nam…

Rõ ràng, đây đang là những bước đi đúng hướng, là giải pháp hữu ích nhằm phát triển hệ thống năng lượng hiệu quả và bền vững tại Việt Nam.

Theo hanoimoi.com.vn

Trung Quốc chỉ trích phán quyết của ICT về pin năng lượng mặt trời giá rẻ

Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, phán quyết của Ủy ban Thương mại Quốc tế của Mỹ (ITC) về pin năng lượng mặt trời giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc gây tổn hại đến các nhà sản xuất nội địa Mỹ.

Giới chức Trung Quốc ngày 24/9 kêu gọi Mỹ tuân thủ các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thận trọng trong việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại sau khi một cơ quan điều tra của Mỹ ra phán quyết các tấm pin năng lượng Mặt Trời giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc gây tổn hại nghiêm trọng đến các nhà sản xuất nội địa Mỹ.

Phóng viên TTXVN tại Bắc Kinh dẫn phát biểu của Cục trưởng Cục Phòng vệ và Điều tra Thương mại, Bộ Thương mại Trung Quốc (MOC) Vương Hạ Quân cho rằng phán quyết của Ủy ban Thương mại Quốc tế của Mỹ (ITC) được đưa ra bất chấp sự phản đối quyết liệt cả ở trong và ngoài nước Mỹ.

Theo ông Vương Hạ Quân, phán quyết này không đếm xỉa đến sự thật rằng Mỹ vốn đã triển khai một số biện pháp phòng vệ thương mại nhằm đem lại sự bảo vệ cần thiết cho ngành công nghiệp sản xuất pin năng lượng Mặt Trời nội địa.

Phía Trung Quốc chỉ trích phán quyết của ICT chẳng những không đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất pin năng lượng Mặt Trời của Mỹ, mà thậm chí còn làm gia tăng sự bất ổn trong hoạt động thương mại của các sản phẩm này trên toàn cầu.

Cục trưởng Cục Phòng vệ và Điều tra Thương mại MOC cũng nhấn mạnh sự lưu thông tự do của các sản phẩm pin năng lượng Mặt Trời sẽ giúp cắt giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện khí hậu toàn cầu.

Theo đó, bảo vệ tự do thương mại trong lĩnh vực này cũng là sự chia sẻ trách nhiệm giữa các quốc gia và là lợi ích chung của tất cả các bên.

Cục trưởng Vương Hạ Quân bày tỏ hy vọng các nhà điều tra của Mỹ sẽ tuân thủ nghiêm túc các quy định của WTO và cân nhắc một cách hết sức thận trọng trong việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại.

Việc ITC ra phán quyết khẳng định các tấm pin năng lượng Mặt Trời giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc và những nước khác gây tổn hại nghiêm trọng đến các nhà sản xuất trong nước làm tăng khả năng chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump áp thuế, có thể đẩy giá của sản phẩm nhập khẩu này tăng gấp đôi./.

Nguồn bnews.vn